Thực trạng và triển vọng phát triển ngành dừa Bến Tre

Bài viết được tổng lược và phân tích qua các thông tin đã đăng trên trang web này. Các đánh giá trong tương lai chỉ mang tính nhận định, không mang tính dự báo nhưng cũng hy vọng là giúp phần nào cho người trồng và kinh doanh dừa có cách nhìn lạc quan hơn và yên tâm đầu tư.

1. Về môi trường sinh thái và tính thích nghi
Ở Việt Nam, cây dừa có thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khắc nghiệt của khô hạn, bão tố, đất cát nghèo dinh dưỡng… như ở miền Trung và lũ lụt, mặn xâm nhập, nhiễm phèn…ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), cây dừa tỏ ra thích nghi tốt trên các loại đất khác nhau. Chính vì vậy, cây dừa đã và sẽ không cạnh tranh với các loại cây lương thực và thực phẩm khác như lúa, bắp, đậu…. Một ưu điểm khác của cây dừa là vấn đề sâu, bệnh gây hại không nghiêm trọng như các cây trồng khác. Thường cây dừa có thể dễ dàng vượt qua và phục hồi nhanh chóng, tiếp tục mang trái sau khi bị tấn công bởi những loài côn trùng, động vật gây hại không nghiêm trọng hoặc được phát hiện sớm qua các biện pháp xử lý đơn giản. Với vai trò là cây trồng tiên phong, cây dừa còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, tạo tiểu khí hậu ổn định, chống xói mòn, giữ vai trò quan trọng trong du lịch sinh thái ở ĐBSCL và ven biển miền Trung. Hiện nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc gia tăng xâm nhập mặn, hạn hán và lũ lụt bất thường là những mối đe dọa cho những vùng đồng bằng ven biển, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long thì cây dừa được đánh giá là cây có khả năng chống chịu các nguy cơ trên. Với tính chất đa dạng và phong phú của cây dừa, có người cho rằng nếu xếp nhóm cây nầy thuộc về cây ăn quả hoặc cây công nghiệp hay cây lâm nghiệp thì cũng hợp lý. Dù ở nhóm nào thì cây dừa đều góp phần tham gia phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững trong tương lai.
2. Vai trò kinh tế của cây dừa đối với đời sống cộng đồng
Trồng dừa là một phần cốt lõi của nền kinh tế nông thôn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chiếm khoảng 85% nguồn cung nguyên liệu dừa trên toàn cầu (APCC-2013).Theo số liệu của Cục Thống kê năm 2011, toàn tỉnh Bến tre có 163.082 hộ trồng dừa, với diện tích hiện nay có khoảng 69.000 ha; năng suất bình quân 9.300 trái/ha năm, được xem là cao nhất so với các nước khác. Tuy nhiên, năng suất nầy còn có thể tăng thêm 15-20% nếu áp dụng các quy trình kỹ thuật đúng mức. Qua điều tra điển hình, thu nhập từ dừa chiếm đến 72% cơ cấu thu nhập của hộ, trong khi thu nhập từ các cây trồng khác như lúa, chuối, mía, chanh, v.v, chỉ chiếm 7% trong tổng thu nhập của hộ. Chăn nuôi chỉ đóng góp 3% thu nhập, các hoạt động buôn bán, dịch vụ, ngành nghề phụ chỉ chiếm khoảng 4%.Nhìn chung, cây dừa có tiềm năng kinh tế lớn và có nhiều lợi thế riêng, có khả năng cạnh tranh với các loại cây trồng khác vì có tỷ suất lợi nhuận cao. Giá bán dừa trái trong thời gian qua thường cao từ 2- 5 lần giá thành sản xuất trở lên (giá thành sản xuất 1 trái dừa từ 1.625 – 1.735đ/trái, trong khi đó các sản phẩm nông nghiệp khác thường chỉ đạt tỷ suất lợi nhuận ở mức 30% – 40%). Thực tế cho thấy nếu nông dân chọn giống kỹ, chăm sóc tốt, biết áp dụng các biện pháp trồng xen, nuôi xen thích hợp trong vườn dừa, kết hợp với việc chế biến các phần của cây dừa thành các sản phẩm có giá trị cao tham gia thị trường, biến vườn dừa trở thành hệ sinh thái sản xuất nông nghiệp và kinh doanh nhiều loại sản phẩm để tận dụng tài nguyên đất đai, ánh sáng, nước, tay nghề lao động trong cộng đồng… thì hiệu quả kinh tế thu được từ cây dừa rất cao. Nếu tính theo thời giá hiện nay, một ha dừa có trồng xen ca cao, chanh, bưởi, măng cụt, kiểng lá…. thì mỗi năm có thể lãi từ 100 triệu đồng đến 150 triệu đồng/ha. Có lẽ không có loại cây trồng nào có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm bằng cây dừa. Đặt biệt là tại Bến Tre phần lớn nền công nghiệp chế biến là công nghiệp chế biến dừa với các loại sản phẩm cao cấp như dầu dừa tinh luyện, cơm dừa nạo xấy, bột sữa dừa, nước cốt dừa, nước dừa đóng hộp, than hoạt tính, các loại mỹ phẩm cao cấp từ dừa. Vì vậy trên thế giới, cây dừa được mệnh danh là “cây của cuộc sống”, do tính chất đa dụng của nó, tất cả các phần của cây dừa từ thân, lá, trái, vỏ, xơ, gáo, nước… đều có thể sử dụng phục vụ đời sống con người;
Giá trị sản xuất sản phẩm từ dừa năm 2010 chiếm 24,58% trong giá trị ngành công nghiệp-xây dựng và giá trị xuất khẩu ước đạt 160 triệu USD trong năm 2015, chiếm 25 % giá trị xuất khẩu của tỉnh (Trong giai đoạn 2011-2015 kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ dừa tăng bình quân 13,57/năm)
3. Khả năng mở rộng diện tích, chế biến và tiêu thụ
Diện tích và sản lượng dừa trên thế giới có tăng nhưng ở mức độ thấp từ năm 2010 đến nay (mức tăng bình quân hằng năm lần lượt là 1,3% và 1,05%). Sản lượng dừa thế giới tùy thuộc vào khả năng thâm canh tăng năng suất tại ba quốc gia có diện tích lớn là Indonesia và Philipines, Ấn Độ. Tuy nhiên, phần lớn các diện tích vườn dừa tại các quốc gia nầy là già cỗi, năng suất thấp (khoảng 40 trái/cây/năm). Các nhà sản xuất dừa và chính quyền địa phương đang giải quyết một vấn đề lớn, là thay thế các cây dừa già cỗi. Chính phủ Philippines và Ấn độ đã bắt đầu chương trình trồng mới và trồng lại dừa. Tuy nhiên, các quan chức ở đây cho rằng, những biện pháp này không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Việc thay thế những cây dừa năng xuất thấp để trồng lại những giống dừa mới có năng suất cao, trên thực tế không phải là điều dễ dàng vì không thể thay thế từng cây trong vườn được mà phải khai hoang toàn bộ và trồng mới đồng bộ trên quy mô lớn như ở các tiểu bang tại khu vực Đông Nam Ấn Độ. Như vậy, sẽ cần một nguồn kinh phí đầu tư khá lớn
* Qua phân tích, tổng hợp về các tư liệu của các nguồn APCC, Oil World, FAO, UCAP, USDA …và số liệu thống kê của các nước trồng dừa lớn trên thế giới có thể đưa ra một bức tranh tương đối về mức sản xuất và tiêu dùng sản phẩm nầy:
Sản lượng dầu dừa sản xuất trên toàn thế giới dao động (2010 -2014) là 3,5 triệu tấn đến 3,6 triệu tấn, trong đó Philippine và Indonesia khoảng 2,6 triệu tấn; Sản lượng sản xuất được tiêu thụ hầu hết trong năm, cho nên lượng dự trữ cuối kỳ hằng năm không lớn, từ 300.000 tấn – 600.000 tấn và theo dự kiến, số lượng sản xuất và dự trữ sẽ có giảm trong một vài năm tới. Sự sụt giảm này đã được dự đoán trước do sản lượng sản xuất bị thiếu hụt bởi tác động của những cơn bão gây ra làm thiệt hại hàng triệu cây dừa tại Philippin. Sự sụt giảm sản lượng cũng nhiều hơn do sâu hại dừa tấn công. Hoạt động trồng lại cũng diễn ra chậm hơn so với dự kiến và những cây dừa được trồng mới sẽ mất từ 06 đến 08 năm mới đạt được tiềm năng sản xuất. Theo dự tính của APCC thì mặc dù thị trường dầu dừa có xu hướng tụt dốc vào quý 1/2015 nhưng giá dầu dừa sẽ không giảm thấp trong thời gian quá dài. Thị trường dầu dừa đang phát triển trong quý 2/2015 và sẽ tăng khoảng 5% đến 10% từ mức giá hiện tại không chỉ do nhu cầu tiêu thụ trên toàn cầu mà còn do sự thiếu hụt nguồn cung trên toàn cầu. Ngoài ra, kế hoạch tăng hỗn hợp pha trộn nhiên liệu sinh học điêxen từ 2,5% lên 5% của một vài nước sản xuất CNO, đặc biệt là Philippines cũng giúp cải thiện giá CNO trên toàn cầu. Do nhiều nước quyết định giảm sự lệ thuộc và nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch nên hỗn hợp pha trộn này mới tăng gấp đôi như thế. Năm 2012, Philippines có khoảng 140.000 – 150.000 tấn dầu dừa được sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học điêxen và sản lượng này dự kiến sẽ tăng khoảng 350.000 tấn khi quyết định tăng hỗn hợp pha trộn được thực hiện. Sự thay đổi như thế sẽ làm giảm lượng xuất khẩu dầu dừa của Philippines và nguồn cung dầu dừa trên thị trường toàn cầu. Mặc dù Indonesia, quốc gia sản xuất dầu dừa lớn thứ hai, sử dụng dầu cọ thay thế cho dầu dừa để pha trộn nhiên liệu sinh học điêxen nhưng nguồn nguyên liệu vẫn tăng cao hơn từ 5% đến 10%. Điều này sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung dầu cơm cọ được xem là sản phẩm thay thế cho dầu dừa tại Indonesia.
Cũng cần nói thêm, mặc dù sản lượng cơm dừa được sản xuất trên toàn thế giới hằng năm dao động từ 5,6 triệu tấn đến 5,8 triệu tấn, nhưng hầu hết đều được chế biến thành dầu dừa, ngoài ra cho dù có lúc sản lượng xuất khẩu dầu dừa của Phippine có tăng trong một số năm cá biệt, thí dụ như theo dự báo của APCC sản lượng dầu xuất khẩu của nước nầy sẽ tăng cao trong năm 2015 bởi vì họ phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu thô và dầu dừa thô từ các quốc gia khác để chế biến và xuất khẩu. Cùng lúc đó, tuy sản lượng dừa chế biến của Ấn độ có tăng do mở rộng thêm diện tích (Kế hoạch dự kiến và đang triển khai mở rộng thêm 40.000 ha tại vùng Đông Nam), nhưng chủ yếu là để tiêu thụ nội địa vì đây là nước đông dân và có tập quán sử dụng dừa và các sản phẩm dừa cho chế biến thức ăn hàng ngày, thậm chí phải nhập khẩu thêm. Cho nên tổng lượng sản xuất và lưu thông thị trường trên toàn thế giới sẽ không thay đổi lớn, nghĩa là vẫn ở mức 5,6-5,8 triệu tấn. Mặt khác tại Indonesia, là quốc gia có truyền thống dùng dầu cọ để thay thế một phần dầu dừa nhưng giá của loại dầu nầy không rẻ gì mấy so với dầu dừa.
Thị trường Châu Âu là thị trường nhập khẩu chủ yếu dầu dừa trên thế giới, chiếm 43,9% thị phần (800 ngàn tấn); Thị trường thứ hai là Hoa Kỳ, chiếm 23,5% thị phần (500 ngàn tấn); Thứ ba là Trung Quốc chiếm 12,5% thị phần; Malaysia chiếm 6,7% thị phần.
Theo các nhà phân tích thuộc Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), sản lượng dừa hiện đã không thể đáp ứng được nhu cầu toàn cầu đang tăng nhanh, trong khi năng suất sản xuất dừa trên thế giới tăng trưởng không quá 2% mỗi năm, thì nhu cầu về các sản phẩm có chứa các thành phần dừa tăng nhanh gấp 5 lần, chính vì vậy, Ông Hiroyuki Konuma, đại diện khu vực châu Á – Thái Bình Dương của FAO-2013, khẳng định cần cấp thiết trồng lại các vườn dừa.
Riêng tại Việt Nam, các nhà sản xuất trong nước ước tính năm 2011 tiêu thụ dầu thực vật nước ta vào khoảng 695.000 tấn. Mặc dù không có số liệu chính thức về tiêu thụ dầu thực vật theo đầu người, nhưng tổ chức USDA dự báo trong vòng 15 năm tới nhu cầu về dầu thực vật nước ta sẽ tăng mạnh do nền kinh tế tăng trưởng nhanh và phát triển ổn định và chiến dịch marketing rầm rộ của các nhà sản xuất về việc thay thế mỡ động vật và hạn chế dầu đậu nành bằng các loại dầu thực vật khác để bảo vệ sức khỏe .
Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp (IPSI) ước tính tiêu thụ dầu thực vật trên đầu người năm 2011 tại Việt Nam vào khoảng từ 7,3 – 8,3kg/người. Tuy nhiên, con số này vẫn còn khá xa so với khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (13,5kg/người/năm). Các nhà sản xuất trong nước dự báo tiêu thụ dầu thực vật trên đầu người nước ta năm 2015 sẽ tăng ở mức 14,5kg/người/năm, năm 2020 mức tiêu thụ sẽ tăng lên 16.2 – 17.4kg/người/năm và năm 2025 dự kiến là 18.6-19.9kg/người/năm.
Không có thông tin chính thức về tỷ lệ dầu dừa được pha trộn trong các loại dầu ăn khác, nhưng theo một số chuyên gia, tỷ lệ nầy không phải là nhỏ vì những dưỡng chất tốt có trong dầu dừa cao hơn so với một số loại dầu ăn khác như dầu đậu nành, đầu hạt hướng dương mà giá thành của các loại nầy không khác biệt nhiều lắm, trừ dầu cọ. Hơn nữa với những khám phá mới của khoa học về thực phẩm chức năng và mỹ phẩm của dầu dừa thì xu thế tiêu dùng dầu dừa trong thực phẩm sẽ gia tăng và chắc chắn một sự khủng hoảng thiếu hụt dầu dừa cũng sẽ diễn ra trong một ngày gần đây như cảnh báo của FAO. Tiềm năng mở rộng qua việc trồng mới có lẽ chủ yếu một vài quốc gia như Srilanka, Thái lan và Việt Nam. Tuy nhiên, với quy mô diện tích quá nhỏ nên thị phần về sản lượng sản phẩm gia tăng chỉ thể hiện ở mức vài phần ngàn, vì vậy mức cung sản lượng sẽ không theo kịp để bù vào mức cầu trên thị trường.
Tại Bến Tre, tình hình sản xuất và tiêu thụ dừa tính đến nay ngày càng được khởi sắc. Diện tích, năng suất, sản lượng dừa đều tăng, khoảng 6% một năm Theo số liệu của Cục thống kê Bến Tre, năm 2005 diện tích dừa của tỉnh đạt 37.595ha, diện tích thu hoạch 33.587ha, sản lượng 258.78 triệu trái; sau đó diện tích dừa tăng nhanh hàng năm và đến năm 2015 ước đạt khoảng 69.000 ha, diện tích thu hoạch 57.000ha, sản lượng trên 500 triệu trái. Như vậy, chỉ sau 10 năm, diện tích và sản lượng dừa của tỉnh đã tăng gần gấp đôi. Chất lượng dầu trong trái dừa của Bến Tre được đánh giá là tốt so với thế giới. Chính vì vậy giá dừa của Bến Tre thường cao hơn với giá thị trường thế giới tại các thời điểm (Nếu tính giá dừa trái bình quân từ năm 2010 đến nay, giá dừa tại Bến Tre cao gấp đôi so với giá dừa trái tại Philippine). Hơn nữa nếu tính theo năng suất cơm dừa/ha thì Bến Tre cũng cao gấp đôi với các nước trong Hiệp hội Dừa Châu Á – Thái Bình Dương [Bến Tre 1,9 tấn copra/ha; các nước thuộc Hiệp hội dừa Châu Á – Thái Bình Dương (APCC), chỉ đạt 0,9 tấn copra/ha), Philippines, Indonesia (0,85 tấn), Ấn Độ (1,1 tấn)].
Ngành công nghiệp chế biến dừa ở Bến Tre tuy mới hình thành không lâu, nhưng đã có sự phát triển khá chắc chắn, đa dạng và phong phú về mặt hàng. Các sản phẩm chế biến của Bến Tre khai thác gần như toàn diện các nhóm sản phẩm chính như nhóm sản phẩm xơ dừa, gáo dừa, cơm dừa và nước dừa. Có thể nói 5 năm qua, các doanh nghiệp chế biến dừa đã có bước phát triển vượt bậc, nhất là trên lĩnh vực chế biến cơm dừa, mụn dừa. Một số doanh nghiệp đã quan tâm xây dựng mối liên kết với người trồng dừa để nhằm giúp người trồng dừa tiêu thụ dừa với giá tốt hơn do giảm bớt các chi phí trung gian, từ đó cho phép ngành dừa Bến Tre có thể thích ứng nhanh khi có một sự thay đổi về cầu trên một thị trường bất kỳ. Với vai trò tạo ra sản phẩm có giá trị thị trường cao và nhiều tiện ích cho xã hội, các doanh nghiệp sản xuất chế biến các sản phẩm từ dừa đã làm tăng thêm giá trị cho cây dừa. Xét về mặt kinh tế – xã hội, với quy mô công suất chế biến lớn, các doanh nghiệp đã tiêu thụ nhiều dừa nguyên liệu, tạo ra nhiều công ăn việc làm (khoảng 13.000 lao động, nếu tính cả toàn ngành là khoảng 70.000 lao động) tạo thu nhập tốt cho người dân, đóng góp vào nguồn thu ngân sách của tỉnh, tăng thêm giá trị cho ngành dừa nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Theo số liệu thống kê, các nhà máy sản xuất cơm dừa nạo sấy, bột sữa dừa, sữa dừa, kẹo dừa, dầu dừa của tỉnh theo công suất thiết kế có thể chế biến được 880 triệu trái dừa; Với sản lượng ước tính trong năm 2015, thì các đơn vị này có thể chế biến được hơn 400 triệu trái, tương đương 85% lượng dừa khô thu hoạch của tỉnh (phần còn lại do XK dừa nguyên trái và tiêu thụ trong dân).
Trong tình hình giá dừa có nhiều biến động ở những tháng đầu năm 2015, nhưng sản xuất và kinh doanh dừa của Bến Tre trong 9 tháng vẫn phát triển tốt; sản lượng các mặt hàng chủ yếu như cơm dừa nạo xấy, sữa dừa, than thiêu kết, than hoạt tính tăng từ 30% đến 40% so cùng kỳ.
Cũng không quá sớm, để lạc quan về triển vọng về khả năng cạnh sản phẩm dừa của Bến Tre với các đối thủ lớn như Philippine, Indonesia, Sri Lanka khi Hiệp định TPP có hiệu lực (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương) vì lúc đó Việt Nam sẽ được miễn thuế xuất khẩu vào thị trường của 12 quốc gia thành viên (không có các đối thủ trên) nằm trong Hiệp định nầy.
Từ những thông tin trên cho thấy:
– Giá dừa nguyên liệu ở Bến Tre nói riêng và cả nước nói chung mặc dù chịu ảnh hưởng với giá thị trường thế giới, nhưng nhờ năng xuất và chất lượng cao nên giá bán dừa trái vẫn luôn cao hơn giá thị trường thế giới, người trồng dừa vẫn có thu nhập tốt, tỷ suất lợi nhuận của người trồng dừa trên 300%.
– Tín hiệu về mặt thị trường (cung – cầu, xu thế tiêu dùng, lợi thế so sánh về canh tác so với các nước trồng dừa….) vẫn có những triển vọng khả quan trong vài chục năm năm tới.
– Công nghiệp chế biến dừa của Bến Tre đã đạt mức độ tiên tiến so với các nước lân cận. Các sản phẩm tinh được xuất khẩu trên 100 nước và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới và có khả năng đảm nhận trọng trách tiêu thụ, chế biến các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, ngay cả khi sản lượng dừa trái tại tỉnh tăng gấp đôi.
Tuy vậy ngành dừa Bến Tre, cũng như cả nước cũng đang đối mặt với những thách thức không nhỏ như:
– Trình độ thâm canh còn thấp và chưa phổ biến do thiếu ngồn nhân lực và vốn đầu tư,
– Uy tín thương hiệu của sản phẩm có chất lượng chưa được nhân rộng. Không ít các doanh nghiệp chưa quan tâm đến quyền sở hữu trí tuệ, nguy cơ bị đánh cấp thương hiệu có thể xãy ra,
– Chênh lệch về năng lực tài chính và nhu cầu còn khá lớn có ảnh hưởng không nhỏ đến việc cải tiến và đổi mới trang thiết bị,
4. Giải pháp:
Để khắc phục những hạn chế trên, cần phải thực hiện các giải pháp:
– Đẩy mạnh công tác quảng bá để nông dân yên tâm thâm canh sản xuất: Nếu dùng năng suất để đo giá trị đất, đất trồng dừa sẽ bị xếp hạng thấp so với các loại cây khác vì hiệu suất sử dụng ánh sáng quang hợp, hệ thống rễ hấp thu dưỡng chất từ đất thấp, hay nói khác đi còn khoảng 40-50% lượng ánh sáng và diện tích đất bị bỏ phí, cho nên cần phải triển khai các mô hình trồng và nuôi xen hợp lý. Nếu áp dụng đúng mức thì hiệu quả thu nhập từ trồng xen không thua gì với cây dừa mà còn tăng thêm độ màu mỡ của đất, thậm chí còn giúp gia tăng năng suất dừa. Đây là việc làm rất có ý nghĩa khi mà diện tích ở mỗi nông hộ quá ít.
– Tăng cường công tác khuyến nông: Hiện nay còn nhiều nông dân chưa áp dụng triệt để và đầy đủ các kiến thức đã được đào tạo. Cần vận động, xây dựng các mô hình mẫu để nông dân thực hiện. Nếu áp dụng kỹ thật đúng mức thì năng suất còn có thể tăng thêm 15%-20%. Thí dụ như bón đủ liều lượng lân và kali, chia ra nhiều lần bón, thay vì hai lần trong năm như trước đây, do đặc tính sinh thái của cây dừa là tạo khối sơ khởi của mầm hoa và cho trái quanh năm.
– Xây dựng các mối liên kết để đảm bảo lợi ích: Xây đựng các mối liên kết ngang để chuyển giao khoa học công nghệ, quảng bá thông tin cho người trồng dừa và các mối liên kết liên kết dọc giữa người sản xuất-thương lái-doanh nghiệp chế biến. Mỗi doanh nghiệp có hệ thống thương lái riêng và chuyên sâu. Các thương lái nầy cũng là những thành viên gắn bó với doanh nghiệp.
– Hỗ trợ DN đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ: Cân đối vốn ngân sách cho Chương trình phát triển ngành dừa để đầu tư cho các khoản hỗ trợ chính sách cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đầu tư thiết bị tiên tiến, sản xuất sản phẩm mới. Các hoạt động dự báo thông tin thị trường, quảng bá, xây dựng thương hiệu, sản xuất sạch. Giảm, miễn thuế trong quá trình sản xuất thử các sản phẩm mới.
Nguyễn Trung Chương
Phó Chủ tịch thường trực
Hiệp hội Dừa Bến Tre

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.